![]() |
| Các đại biểu tham dự hội thảo về hợp tác phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với xâm nhập mặn tại Việt Nam, tổ chức ở Hà Nội ngày 5/11/2026. |
Ngày 5/11/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam và các đối tác tổ chức Hội thảo “Thảo luận chiến lược hợp tác trong lĩnh vực xâm nhập mặn, thích ứng và phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam”.
Hội thảo có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức nông dân, doanh nghiệp và các tổ chức phát triển trong nước, quốc tế. Chương trình tiếp nối hội thảo ngày 2/11 và các hoạt động trao đổi, khảo sát thực tiễn tại Cần Thơ trong hai ngày 2 và 3/11, đưa những vấn đề từ địa phương vào thảo luận cùng các cơ quan hoạch định chính sách và đối tác có khả năng hỗ trợ triển khai.
![]() |
| Phát biểu khai mạc tại hội thảo, GS.TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu kết nối nhu cầu thích ứng tại địa phương với chính sách, nguồn lực và các đối tác trong nước, quốc tế. |
Kết nối nhu cầu từ đồng ruộng với chính sách và nguồn lực
Phát biểu khai mạc, GS.TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch VOAA, cho biết những trao đổi tại Cần Thơ đã góp phần nhận diện rõ hơn tác động của xâm nhập mặn đối với sản xuất trồng trọt, sinh kế người dân và mục tiêu phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long. Từ thực tiễn này, ông nhấn mạnh yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp về thông tin, trữ nước ngọt, kỹ thuật canh tác, tín dụng và mạng lưới liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã với nông dân.
Theo GS.TS. Đào Thanh Vân, phiên làm việc tại Hà Nội cần làm rõ những chương trình, chính sách và nguồn đầu tư có thể hỗ trợ các ưu tiên đã được xác định, đồng thời nhận diện khoảng trống về thể chế, kỹ thuật, tài chính và tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, các bên xác định đối tác, vai trò đóng góp và những công việc có thể phối hợp triển khai.
Ông đề nghị các phiên thảo luận tập trung xác định ưu tiên trước mắt và giải pháp có khả năng nhân rộng phù hợp từng vùng, làm rõ trách nhiệm của các bên, kết nối nguồn lực sẵn có và từng bước hình thành cơ chế phối hợp thường xuyên để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, công nghệ.
Quan điểm của VOAA là lấy người dân và cộng đồng địa phương làm trung tâm trong phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với xâm nhập mặn. Việc chuyển đổi sản xuất cần gắn với bảo vệ tài nguyên đất, nước, hệ sinh thái và nâng cao giá trị nông sản, nhất là sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu. Kinh nghiệm quốc tế, trong đó có Hà Lan, cần được chọn lọc và vận dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thể chế của Việt Nam.
GS.TS. Đào Thanh Vân kỳ vọng hội thảo góp phần hình thành các ưu tiên hợp tác rõ ràng, xác định đầu mối phối hợp và những bước triển khai tiếp theo. Ông nhấn mạnh định hướng “từ đối thoại đến hành động, từ sáng kiến riêng lẻ đến mạng lưới cùng hành động”.
![]() |
| Ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam, đề nghị kết nối dữ liệu, công nghệ, tài chính và thị trường để hỗ trợ nông dân thích ứng với xâm nhập mặn. |
Ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam, chia sẻ rằng Việt Nam và Hà Lan cùng đối mặt với những thách thức về xâm nhập mặn. Từ trao đổi với nông dân tại Cần Thơ, ông nhận thấy người sản xuất đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thích ứng, đồng thời ngày càng nhận thức rõ tác động của biến đổi khí hậu. Để triển khai những giải pháp phù hợp, nông dân cần sự hỗ trợ từ chính quyền, cơ quan nghiên cứu và khu vực tư nhân.
Nhắc đến nguy cơ đối với cây ăn quả ven biển, ông Joost van Uum lưu ý yêu cầu chủ động bảo đảm nguồn nước cho sản xuất. Theo thông tin dự báo mùa khô 2026 đến 2027 được Cục Khí tượng Thủy văn công bố, trong kịch bản nguy cơ rất cao, khoảng 45.000 ha cây ăn trái ven biển có khả năng chịu tác động của hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn.
Ông cho biết Hà Lan có thể đóng góp kinh nghiệm quản lý nước, nghiên cứu giống cây chịu hạn, chịu mặn và công nghệ đo lường, giám sát ở cấp nông hộ. Quá trình hợp tác được triển khai qua hoạt động khảo sát năm 2025, đoàn doanh nghiệp Hà Lan đến Việt Nam tháng 1/2026 và sự tham gia của các bên Việt Nam tại hội thảo quốc tế về xâm nhập mặn ở Hà Lan tháng 6/2026. Các hoạt động tại Cần Thơ và Hà Nội tiếp tục cụ thể hóa những ưu tiên chung.
![]() |
| Bà Babette Bodlaender, đại diện Tổ chức Đối tác Lương thực Hà Lan (NFP) điều phối hội thảo. |
Điều phối hội thảo, bà Babette Bodlaender, đại diện Tổ chức Đối tác Lương thực Hà Lan (NFP), cho biết chương trình hướng tới kết nối những tổ chức đang có chuyên môn, sáng kiến và nguồn lực liên quan, xác định khả năng cùng làm việc và những bước tiếp theo. NFP đã thúc đẩy nhóm hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan về xâm nhập mặn, đồng thời tìm kiếm sự phối hợp với các chương trình quốc tế khác.
![]() |
| Ông Peter Prins, Giám đốc điều hành Quỹ SALTA, chia sẻ bốn ưu tiên từ các hoạt động tại Cần Thơ về dữ liệu, kết nối tri thức, quản lý nước ngọt và tiếp cận tài chính, thị trường. |
Tổng hợp kết quả từ Cần Thơ, ông Peter Prins, Giám đốc điều hành Quỹ SALTA, nêu bốn ưu tiên gồm giám sát độ mặn và dữ liệu đất, kết nối tri thức, nâng cao khả năng tiếp cận và quản lý nước ngọt, cùng khả năng tiếp cận tài chính và thị trường.
Theo ông Peter Prins, dữ liệu trên các dòng sông lớn cần được bổ sung bằng thông tin tại kênh, mương và đất canh tác để nông dân biết mức độ ảnh hưởng của mặn, khả năng phục hồi đất sau mùa mưa và loại cây phù hợp. Các xã, hợp tác xã có thể cùng tham gia thu thập dữ liệu. Việc chuyển giao tri thức cũng cần có lực lượng hướng dẫn trực tiếp tại trang trại, giúp điều chỉnh kết quả nghiên cứu thành giải pháp người dân có thể áp dụng.
Về nước, ông đề cập việc tận dụng nước mưa, cải thiện hệ thống tưới, tiêu, ao trữ và nghiên cứu khả năng lưu trữ, thu hồi nước trong tầng chứa nước dưới đất. Ông chia sẻ kinh nghiệm thử nghiệm công nghệ này ở Hà Lan, Bangladesh và đặt vấn đề nghiên cứu khả năng áp dụng tại Việt Nam. Đối với thị trường và tài chính, nông dân cần được hỗ trợ ghi chép sản xuất, kiểm tra đất, quản lý dinh dưỡng và liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ chức tài chính.
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Sử, Chủ tịch Hội Nông dân TP Cần Thơ, đề xuất hỗ trợ quan trắc độ mặn đến tận chân ruộng, chuyển giao công nghệ trữ nước và nâng cao năng lực liên kết chuỗi giá trị cho nông dân, hợp tác xã. |
Đưa dữ liệu và giải pháp thích ứng đến từng ruộng vườn
Từ nhu cầu địa phương, ông Nguyễn Văn Sử, Chủ tịch Hội Nông dân TP Cần Thơ, cho biết hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, sụt lún đất và biến động nguồn nước đang tác động trực tiếp đến sinh kế nông dân. Cần Thơ đứng trước áp lực bảo vệ vườn cây ăn trái sinh thái, vùng lúa chất lượng cao và nguồn nước phục vụ sản xuất.
Theo ông Sử, các hộ sản xuất nhỏ lẻ đang thiếu ba yếu tố gồm dữ liệu chính xác tại chân ruộng, công nghệ tích trữ và quản lý nước tiết kiệm, cùng năng lực kết nối chuỗi giá trị. Ông đề xuất bốn nội dung hợp tác với các đối tác Hà Lan.
Trước hết là hệ thống quan trắc, cảnh báo và dữ liệu độ mặn đến khu vực lấy nước trực tiếp. Hội Nông dân mong muốn có thiết bị đo mặn cầm tay với chi phí phù hợp, tập huấn quản lý sức khỏe đất nhiễm mặn cho hợp tác xã và chi hội nông dân. Cán bộ Hội ở cơ sở cần được bồi dưỡng để tổ chức các lớp học ngay tại ruộng, vườn về thích ứng khí hậu và quản lý nước.
Nội dung tiếp theo là chuyển giao các mô hình trữ nước ngọt quy mô vừa, nhỏ và kỹ thuật tiết kiệm nước. Ông Sử đề cập ao trữ lót bạt chống thấm, công nghệ bổ sung nước ngầm nhân tạo, tưới nhỏ giọt kết hợp màng phủ giữ ẩm, với yêu cầu lựa chọn phù hợp từng loại hình sản xuất.
Đối với hợp tác xã, ông đề nghị hỗ trợ năng lực quản trị, phát triển chuỗi nông sản tuần hoàn, hữu cơ, sinh thái, liên kết doanh nghiệp hai nước trong tiêu thụ và chế biến sâu. Cùng với đó là các mô hình sinh kế dành cho nhóm dễ bị tổn thương như luân canh lúa và tôm, tưới tiết kiệm kết hợp cây ăn trái, rau màu, sinh kế phi nông nghiệp và chế biến phụ phẩm. Hội Nông dân TP Cần Thơ cam kết làm cầu nối giữa hộ sản xuất, cơ quan chuyên môn và các đối tác để đưa chương trình hợp tác vào thực tế.
![]() |
| Bà Trần Thị Mỹ Hạnh, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề xuất tích hợp dữ liệu đất, nước, khí tượng thủy văn và thủy lợi vào khuyến cáo sản xuất cho từng địa bàn. |
Ở góc độ quản lý ngành, bà Trần Thị Mỹ Hạnh, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh việc chuyển sang thích ứng chủ động dựa trên điều kiện nước, sinh thái cây trồng và sinh kế. Dữ liệu dự báo cần được chuyển thành lịch thời vụ, khuyến cáo và quyết định sản xuất cho từng tiểu vùng.
Bà Hạnh trình bày sáu nhóm giải pháp gồm bố trí cây trồng, mùa vụ và hình thức canh tác theo điều kiện đất, nước, độ mặn, điều chỉnh thời vụ và giống, quản lý nước chủ động, canh tác bền vững và giảm phát thải, phát triển hợp tác xã và chuỗi giá trị, chuyển đổi số và đánh giá kết quả.
Theo đó, vùng ngọt có thể tổ chức sản xuất lúa chất lượng cao, cây ăn quả và các cây phù hợp trên cơ sở bảo đảm nguồn nước. Vùng chuyển tiếp ngọt và lợ cần linh hoạt thời vụ, luân canh lúa và tôm hoặc lựa chọn cây thích hợp. Vùng ven biển mặn cần hệ thống canh tác và sinh kế phù hợp khả năng cấp nước. Việc chọn giống chịu mặn phải đi cùng kiểm soát chất lượng nước tưới và điều kiện canh tác thực tế.
Trước mùa khô 2026 đến 2027, bà đề nghị theo dõi dự báo nguồn nước, khí tượng và từng đợt mặn để điều chỉnh diện tích, lịch xuống giống, cơ cấu giống và phối hợp vận hành công trình thủy lợi. Tại ruộng, vườn, cần kiểm tra độ mặn trước khi tưới, chủ động trữ nước và sử dụng tiết kiệm. Canh tác bền vững gắn với giảm vật tư đầu vào, quản lý dịch hại tổng hợp, tận dụng phụ phẩm, hạn chế đốt rơm rạ và bảo vệ đất, đa dạng sinh học.
Bà Hạnh đề xuất kế thừa bản đồ rủi ro khí hậu và kế hoạch thích ứng CS-MAP, cập nhật theo địa giới hành chính mới, nâng độ chi tiết đến cấp xã và kết nối với dự báo nước, mặn, vận hành thủy lợi. IRRI có thể hỗ trợ chuyên môn về CS-MAP, các viện thủy lợi đóng góp mô hình dự báo, đối tác Hà Lan hỗ trợ công nghệ và công cụ quản lý dữ liệu, trong khi cơ quan chuyên môn và địa phương ứng dụng kết quả vào chỉ đạo sản xuất.
Cùng với dữ liệu, ba hướng hợp tác khác được bà đề xuất là nghiên cứu, trình diễn giống chịu mặn, gốc ghép, kỹ thuật tưới và phục hồi đất, phát triển chuỗi giá trị thích ứng thông qua hợp tác xã, đào tạo, truy xuất và quản lý sau thu hoạch, cùng huy động nguồn lực công, tư và quốc tế để thí điểm, đánh giá và nhân rộng.
Một ưu tiên khác là mở rộng bản tin thời tiết nông vụ đang được CIAT hỗ trợ tại Đồng Tháp, Cần Thơ và An Giang đến các xã chưa được tiếp cận, sau đó từng bước triển khai ở các địa phương còn lại của Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Ninh. Để duy trì, cần đào tạo cán bộ, cập nhật thường xuyên và chuyển bản tin đến hợp tác xã, nông dân.
Trong phần trao đổi bổ sung, bà Hạnh đề xuất tích hợp CS-MAP với bản đồ đất, dữ liệu khí tượng thủy văn và công trình thủy lợi. Bản tin nông vụ theo chu kỳ 10 ngày có thể kết hợp dự báo thời tiết, lịch vận hành cống, cảnh báo sinh vật gây hại và hướng dẫn canh tác. Việc chuyển khuyến cáo qua các nhóm Zalo giúp người dân tiếp cận kịp thời để điều chỉnh tưới, bón phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
![]() |
| TS. Nguyễn Văn Hùng, đại diện Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), chia sẻ khả năng ứng dụng dữ liệu, bản đồ dinh dưỡng đất và công nghệ số để hỗ trợ quản lý sản xuất tại nông hộ. |
TS. Nguyễn Văn Hùng, đại diện Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), chia sẻ ba hướng đóng góp gồm dữ liệu và tối ưu hệ thống canh tác, giải pháp kỹ thuật, cùng phát triển chuỗi giá trị theo thị trường. Ông cho biết IRRI và đối tác đã triển khai khảo sát khoảng 10.000 nông dân, có dữ liệu khoảng 15.000 mẫu đất phục vụ bản đồ dinh dưỡng và nghiên cứu hệ thống lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, trong đó có lúa và tôm.
Theo TS. Nguyễn Văn Hùng, dữ liệu cần giúp xác định yếu tố ảnh hưởng thu nhập từ từng hợp phần, lựa chọn kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, quản lý dinh dưỡng và nước. Việc kết hợp CS-MAP, dữ liệu thủy lợi, ảnh viễn thám và cảm biến có thể hỗ trợ khuyến cáo cụ thể. Các công cụ học máy, trí tuệ nhân tạo được đề cập như phương tiện chuyển kết quả nghiên cứu thành hướng dẫn quản lý dễ sử dụng cho nông dân và doanh nghiệp.
![]() |
| Ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam trao đổi với đại diện IRRI. |
Trao đổi với đại diện IRRI, ông Joost van Uum đặt vấn đề làm thế nào để dữ liệu phục vụ quyết định ngay tại nông hộ. Ông Peter Prins đề nghị tăng dịch vụ kiểm tra đất nhằm giúp nông dân điều chỉnh phân bón, giảm chi phí và quản lý ảnh hưởng của mặn. Đại diện IRRI lưu ý việc sử dụng cảm biến đất cần được kiểm chứng bằng dữ liệu lấy mẫu và thông tin thực địa.
![]() |
| Bà Trần Tú Anh, Phó Quản lý Dự án VN-ADAPT của SNV, đề nghị kết hợp giám sát độ mặn với sức khỏe đất, đồng thời tích hợp thông tin đất, nước và khí hậu vào bản tin nông vụ. |
Bà Trần Tú Anh, Phó Quản lý Dự án VN-ADAPT của Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV, đề nghị đưa sức khỏe đất vào cùng hệ thống giám sát độ mặn. Theo bà, đánh giá cần phản ánh độ phì, tình trạng thoái hóa, phục hồi đất và tác động của hệ thống canh tác đến hệ sinh thái. Bản tin nông vụ cần tích hợp thông tin đất, nước, nước ngầm, khí hậu và thiên tai để hỗ trợ quyết định sản xuất.
Bà đề xuất kết nối các chương trình và tổ chức đang phát triển bản tin, chia sẻ dữ liệu với CIAT và các đối tác để hình thành hướng dẫn tổng hợp cho người dân. Đây cũng là nội dung gắn với cách tiếp cận giải pháp dựa vào tự nhiên mà VN-ADAPT đang thúc đẩy.
![]() |
| Ông Đặng Văn Niên, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Rijk Zwaan Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm phát triển mô hình nhà màng gắn với giống, kỹ thuật canh tác và kết nối thị trường tiêu thụ. |
Gắn chuyển đổi canh tác với thị trường và tài chính
Từ phía doanh nghiệp, ông Đặng Văn Niên, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Rijk Zwaan Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm chuyển một phần diện tích canh tác ngoài trời sang nhà màng ở mức công nghệ phù hợp khả năng đầu tư của nông dân. Doanh nghiệp tham gia phát triển bộ giống, quy trình canh tác, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và kết nối tiêu thụ.
Dẫn mô hình tại khu vực Hải Dương, ông Niên cho biết với 1.000 m² nhà màng, cơ cấu ba vụ dưa lưới và một vụ dưa leo mùa đông, mức thu được là khoảng 350 đến 500 triệu đồng mỗi năm. Ông cũng chia sẻ kinh nghiệm tại Mộc Châu, nơi mô hình nhà màng tiếp tục được mở rộng sau khi dự án hỗ trợ kết thúc, cùng hoạt động xây dựng thương hiệu và đưa nông sản vào siêu thị.
Theo ông Niên, việc lựa chọn mô hình cần gắn ngay với nhu cầu tiêu thụ. Doanh nghiệp có thể hỗ trợ kết nối với các chuỗi bán lẻ, nhưng người sản xuất phải duy trì quy trình và chất lượng ổn định. Hệ thống trữ nước là điều kiện cần được tính trong thiết kế mô hình, đồng thời phải có giải pháp vốn vì chi phí đầu tư nhà màng vượt khả năng tự thu xếp của nhiều hộ.
![]() |
| Bà Bùi Thị Nha Trang, đại diện Control Union, đề xuất hỗ trợ thiết bị đo mặn, thông tin dự báo và kết nối tiêu thụ để duy trì hiệu quả các mô hình sản xuất hữu cơ. |
Từ thực tế đánh giá chứng nhận, bà Bùi Thị Nha Trang, đại diện Control Union, nêu trường hợp ruộng trong mô hình lúa và tôm bị thiệt hại do bỏ lỡ thời điểm lấy nước ngọt để rửa mặn. Thiếu thiết bị và thông tin làm người dân khó xác định thời điểm xử lý đất, xuống giống. Theo bà, lúa trong hệ thống này còn góp phần tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, cua, vì vậy thiệt hại lúa có thể tác động đến cả chu kỳ sinh kế.
Bà đề nghị ưu tiên thiết bị đo mặn cầm tay và công cụ dự báo cho nông dân, đồng thời hỗ trợ xúc tiến thương mại để sản phẩm hữu cơ, sản phẩm chất lượng cao có đầu ra phù hợp. Bà cũng đề cập việc tận dụng phụ phẩm, như trấu từ xay xát để sản xuất viên nén, góp phần tăng giá trị trong chuỗi nông sản.
![]() |
| TS. Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, đề xuất xây dựng bản đồ chính sách tín dụng để hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn phù hợp. |
TS. Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (ISPAE), Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh ưu tiên tài chính và thị trường trong quá trình thích ứng. Ông đề nghị rà soát đồng thời chính sách sản xuất và cơ chế vốn, chỉ rõ đối tượng, điều kiện, thủ tục để hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp có thể tiếp cận.
Đối với tài chính xanh, ông Phong quan tâm đến cơ chế xác định dự án đáp ứng yêu cầu xanh, tuần hoàn với sự tham gia của tổ chức đánh giá độc lập, giúp hình thành căn cứ cho việc xem xét hỗ trợ. Khung hướng dẫn hiện hành được quy định tại Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg ngày 17/9/2026 về xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị, có hiệu lực từ ngày 1/11/2026.
Ông Phong cũng đề nghị khai thác các chính sách hỗ trợ hợp tác xã, trong đó có hạ tầng phục vụ sản xuất và trữ nước, đồng thời quan tâm công cụ bảo hiểm nông nghiệp. Theo Nghị định số 346/2026/NĐ-CP, mức hỗ trợ phí bảo hiểm tối đa là 95% đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, cận nghèo, 50% đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp khác và 30% đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp đáp ứng điều kiện. Địa bàn, đối tượng, rủi ro, mức và thời gian hỗ trợ cụ thể do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định và khả năng cân đối ngân sách.
Liên quan việc xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, ông cho biết cơ quan nghiên cứu đang tham gia quá trình sửa đổi cơ chế và mong muốn tiếp nhận thêm ý kiến về đầu tư xanh, bền vững, thích ứng khí hậu và hỗ trợ hợp tác xã.
Một đề xuất cụ thể là xây dựng bản đồ chính sách tín dụng, trong đó thể hiện từng nguồn vốn, nhóm được hỗ trợ và điều kiện tiếp cận. Trên cơ sở rà soát năng lực, các đơn vị có thể hỗ trợ đối tượng đủ điều kiện hoàn thiện hồ sơ, đồng thời đào tạo, nâng cao năng lực cho những đơn vị còn thiếu điều kiện. Ông đề nghị tổ chức quốc tế phối hợp triển khai hoạt động này để đưa chính sách đến người có nhu cầu.
![]() |
| Ông Trần Đại Nghĩa, Quản lý dự án của FAO, đề xuất cập nhật dữ liệu cho CS-MAP, mở rộng cảnh báo rủi ro khí hậu và kết nối nguồn lực cho chuyển đổi nông nghiệp sinh thái tại Đồng bằng sông Cửu Long. |
Ông Trần Đại Nghĩa, Quản lý dự án của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), chia sẻ thông tin về các sáng kiến chuỗi giá trị nông sản thực phẩm thích ứng khí hậu, tăng minh bạch kết nối sản xuất với tiêu dùng và giảm phát thải. Ông cũng đề cập định hướng mở rộng sự tham gia vào chương trình sản xuất lúa phát thải thấp theo khả năng đóng góp của từng chủ thể.
Theo ông Nghĩa, FAO đang triển khai dự án được Liên minh châu Âu hỗ trợ về chuyển đổi hệ thống nông nghiệp sinh thái tại Đồng bằng sông Cửu Long, gắn với chuỗi giá trị thích ứng ở vùng giữa và ven biển. Các hoạt động này có thể kết nối với ưu tiên của hội thảo về dữ liệu, tổ chức sản xuất và tài chính.
Ông đề nghị cập nhật CS-MAP bằng dữ liệu gần thời gian thực, ảnh vệ tinh, dữ liệu lớn và kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, đồng thời mở rộng ứng dụng cho các cây trồng khác. Cảnh báo cần bao quát những rủi ro liên quan như hạn mặn, lũ và sạt lở. Về nguồn lực, ông nêu hướng tài chính kết hợp, gắn với đo đạc, báo cáo, thẩm định, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc để hỗ trợ sản phẩm thích ứng, có trách nhiệm với khí hậu.
![]() |
| Ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, nhấn mạnh vai trò của khuyến nông cơ sở trong hướng dẫn nông dân quản lý nước, giảm chi phí đầu vào và tham gia chuỗi liên kết. |
Kết nối khuyến nông với sinh kế và hệ thống thực phẩm
Ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho biết hệ thống khuyến nông đã triển khai hướng dẫn nhận biết, ứng phó hạn mặn, xây dựng sổ tay, tờ gấp và các mô hình canh tác, trữ nước. Tại vùng cây ăn trái, các giải pháp bể trữ, ao lót bạt có thể được xem xét theo điều kiện đầu tư. Ở vùng ven biển, tổ chức sản xuất cần dựa trên sự thay đổi giữa điều kiện nước ngọt và nước mặn.
“Nước ngọt cũng là tài nguyên mà nước mặn cũng là tài nguyên”, ông Hoàng Văn Hồng nhấn mạnh, đồng thời đề nghị lựa chọn cách hướng dẫn để nông dân dễ thực hiện và giảm chi phí.
Theo ông Hồng, hỗ trợ người dân giảm giống gieo sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các chi phí đầu vào là nội dung cần tiếp tục đẩy mạnh. Lực lượng khuyến nông cơ sở, khuyến nông cộng đồng cần được tập huấn để hỗ trợ tổ hợp tác, hợp tác xã tham gia chuỗi liên kết với nhà khoa học, cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Ông cho biết kinh phí xây dựng mô hình còn hạn chế, vì vậy hệ thống khuyến nông phối hợp với báo chí, truyền thông để phổ biến kết quả và hỗ trợ nhân rộng. Về lâu dài, ông đề nghị có sự tham gia của ngành thủy lợi trong đầu tư, điều tiết nước, phân vùng sản xuất theo lợi thế sinh thái và đánh giá tác động đối với người dân, hoạt động sản xuất.
![]() |
| PGS.TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam, đề nghị gắn quản lý nước với chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm, bảo đảm sinh kế và dinh dưỡng của người dân. |
PGS.TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam, đề nghị đặt quản lý nước trong mối liên hệ với chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm và đời sống người dân. Bên cạnh xuất khẩu, các mô hình thích ứng cần được xem xét qua thu nhập, điều kiện sống và khả năng tiếp cận thực phẩm đa dạng, có dinh dưỡng của cộng đồng địa phương.
Ông chia sẻ đề xuất hợp tác “Food and Water Nexus”, gắn kết nước và hệ thống thực phẩm, với The Water Agency và CIAT. Hướng nghiên cứu được đề cập là liên hệ tác động của quản lý nước với tổ chức sản xuất, sinh kế, dinh dưỡng tại vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo PGS.TS. Đào Thế Anh, có thể phát huy hệ thống lúa kết hợp thủy sản, cây ăn trái, rau màu và các cây bản địa có khả năng thích ứng vùng ven biển. Ông cho biết Hội đang phối hợp với Trung tâm Tài nguyên thực vật và Đại học Wageningen trong khảo sát cây bản địa để hỗ trợ lựa chọn mô hình sinh kế. Việc điều tiết nước cần được xem xét ở quy mô vùng, gắn các địa bàn và hệ thống công trình liên quan.
Đối với kết nối tri thức, ông đề nghị chia sẻ kho tư liệu nông nghiệp sinh thái vùng Mekong và phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia để người dân tiếp cận kết quả nghiên cứu. Các mạng lưới hiện có có thể đóng góp dữ liệu, tài liệu và kinh nghiệm trong quá trình triển khai hợp tác.
![]() |
| Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền, đại diện Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), nhấn mạnh vai trò triển khai tại địa phương, nâng cao năng lực kinh doanh của nông dân và đáp ứng nhu cầu thực phẩm dinh dưỡng trong vùng. |
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền, đại diện Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), nhấn mạnh vai trò triển khai ở cấp địa phương trong chuyển đổi hệ thống thực phẩm. Bà chia sẻ hoạt động phối hợp với Viện Dinh dưỡng tại Đồng Tháp, kết nối các bên để đưa định hướng chính sách vào thực tế.
Theo bà Tuyền, cần hỗ trợ nông dân nâng năng lực kinh doanh, đa dạng kênh tiêu thụ, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực phẩm dinh dưỡng của người dân trong vùng. Khuyến nông dựa vào cộng đồng, năng lực xây dựng phương án có thể tiếp cận vốn và liên kết hợp tác xã là những nội dung cần được chú trọng. Bà cũng thông tin về hoạt động hợp tác được New Zealand tài trợ dự kiến triển khai, có liên quan đến khuyến nông và hợp tác xã tại đồng bằng.
![]() |
| Ông Brian Bean, Trưởng đoàn Chương trình Aus4Adaptation, chia sẻ các hướng phối hợp về sức khỏe đất, cảm biến chi phí thấp và kết nối tri thức phục vụ sinh kế thích ứng khí hậu. |
Ông Brian Bean, Trưởng đoàn Chương trình Aus4Adaptation do Chính phủ Australia tài trợ, giới thiệu ba hợp phần gồm hỗ trợ thực hiện kế hoạch thích ứng quốc gia, mở rộng giải pháp tại địa phương với nông dân và doanh nghiệp, đặc biệt ở Cần Thơ và Cà Mau, cùng hợp tác với Trường Đại học Cần Thơ về trung tâm tri thức và quỹ nghiên cứu sinh kế thích ứng khí hậu.
Ông cho biết chương trình đang thúc đẩy phối hợp với IRRI về bản đồ sức khỏe đất, đồng thời làm việc với Trường Đại học Cần Thơ về cảm biến độ ẩm đất chi phí thấp, hỗ trợ chuyển đổi từ lúa sang cây trồng mùa khô. Hệ thống cảm biến này có thể được nghiên cứu kết hợp quan trắc độ mặn.
Đại diện Aus4Adaptation đặt vấn đề kết nối hiệu quả các trung tâm, kho tri thức đang tồn tại và tổ chức chia sẻ kết quả giữa các chương trình. Ông cũng lưu ý biến động thị trường khi lựa chọn cây trồng thích ứng. Khả năng phù hợp với đất, nước và khí hậu cần được đánh giá cùng nhu cầu tiêu thụ để người dân duy trì sinh kế.
![]() |
| Các đại biểu trao đổi về cơ hội phối hợp thu thập, chia sẻ dữ liệu, kết nối tri thức và huy động nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn. |
Đề xuất các bước hợp tác tiếp theo theo từng chuyên đề
Trong phiên khảo sát tương tác cuối chương trình, các đại biểu tiếp tục nêu cơ hội phối hợp về thu thập, lập bản đồ và chia sẻ dữ liệu, kết nối chính sách nhà nước, mạng lưới tri thức gắn với hành động, sức khỏe đất và quan trắc mặn. Những nội dung này phản ánh nhu cầu phối hợp giữa các đơn vị đang triển khai chương trình tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Trao đổi về dữ liệu mở, ông Joost van Uum chia sẻ kinh nghiệm Hà Lan trong việc cho phép công chúng và doanh nghiệp tiếp cận dữ liệu được thu thập bằng ngân sách nhà nước. Theo ông, chia sẻ dữ liệu có thể tạo điều kiện cho sáng kiến, dịch vụ và công cụ phục vụ sản xuất.
Phát biểu tổng kết, ông cho rằng các trao đổi tại Cần Thơ đã nêu rõ nhu cầu giải pháp thực tế của nông dân, còn phiên làm việc tại Hà Nội tập trung vào điều kiện để triển khai các giải pháp đó. Hạ tầng số, thông tin về mặn, nguồn vốn và thị trường cần được kết nối với quyết định đầu tư, tổ chức sản xuất ở cấp nông hộ.
Về tài chính, ông đề nghị mở rộng sự tham gia của các chủ thể trong chuỗi, trong đó có khu vực bán lẻ. Chia sẻ kinh nghiệm tại Indonesia về mô hình nhà kính có sự kết nối giữa nhà bán lẻ, tổ chức tài chính, công nghệ và doanh nghiệp giống, ông lưu ý việc xác định nhu cầu tiêu thụ từ đầu có thể hỗ trợ cả quá trình đầu tư và mở rộng sản xuất.
Đối với sản phẩm hữu cơ và sản phẩm bền vững, ông nhấn mạnh yêu cầu phát triển thị trường phù hợp để nông dân nhận được giá trị tương xứng khi thay đổi phương thức canh tác. Hợp tác về nông nghiệp, nước và môi trường cần gắn với khía cạnh kinh tế, xã hội, đời sống của người sản xuất.
![]() |
| Ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam, phát biểu bế mạc, đề xuất tiếp tục hợp tác về tài chính xanh, công nghệ và thị trường để đưa giải pháp thích ứng với xâm nhập mặn đến nông dân. |
Ông Joost van Uum đề xuất tiếp tục tổ chức các cuộc làm việc chuyên đề với sự phối hợp của Cơ quan Doanh nghiệp Hà Lan (RVO) và các bên liên quan. Chuyên đề tài chính xanh có thể kết nối cơ quan quản lý với các định chế như FMO, Rabobank, Agribank, Ngân hàng Phát triển châu Á và những đối tác phù hợp. Chuyên đề công nghệ có thể xem xét chuyển đổi hệ thống canh tác, nhà màng, kiểm soát sinh học và phát triển sản phẩm hữu cơ gắn nhu cầu thị trường.
Ông cũng đề cập khả năng phối hợp cùng Aus4Adaptation và các đối tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt Nam với những quốc gia cùng chịu tác động của mặn như Senegal, Bangladesh, Ai Cập. Các bước tiếp theo cần làm rõ nội dung, đối tác và khả năng đưa giải pháp vào thực địa.
Trong tham luận tại hội thảo, bà Trần Thị Mỹ Hạnh cũng đề xuất lộ trình lựa chọn địa bàn đại diện cho các không gian sinh thái, thống nhất đầu mối kỹ thuật, dữ liệu và nguồn lực, xây dựng mô hình có đối chứng rồi đánh giá trước khi nhân rộng. Các kết quả cần theo dõi gồm sử dụng nước, năng suất, thu nhập, chất lượng đất, phát thải, tác động xã hội và khả năng duy trì sau hỗ trợ.
![]() |
| Phát biểu bế mạc, GS.TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch VOAA, kỳ vọng các tổ chức Việt Nam và đối tác Hà Lan tiếp tục phát triển hợp tác cụ thể, hỗ trợ thích ứng với xâm nhập mặn và tạo sinh kế cho người dân Đồng bằng sông Cửu Long. |
Phát biểu bế mạc hội thảo, GS.TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, cho biết sau một buổi sáng làm việc, các chuyên gia, nhà khoa học và tổ chức tham dự đã chia sẻ nhiều ý kiến, kinh nghiệm. Đặc biệt, những từ khóa được các đại biểu nêu ra đã góp phần xác định các nội dung ưu tiên cho chương trình hành động về giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn và sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thay mặt VOAA, GS.TS. Đào Thanh Vân trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, chuyên gia và tổ chức đã nhiệt tình tham gia, đóng góp trí tuệ để hội thảo đạt được những kết quả trong trao đổi và xác định ưu tiên hợp tác.
![]() |
| GS.TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, tặng quà các đại biểu tại hội thảo. |
“Chúng tôi hy vọng rằng mối quan hệ giữa các tổ chức và đặc biệt là Hà Lan sẽ tạo điều kiện hết sức có ý nghĩa, có chất lượng đối với hoạt động của các tổ chức hướng tới việc thích ứng đối với biến đổi khí hậu, đặc biệt là xâm nhập mặn, tạo sinh kế cho Đồng bằng sông Cửu Long”, GS.TS. Đào Thanh Vân phát biểu.
Phó Chủ tịch VOAA gửi lời chúc sức khỏe tới các đại biểu, đồng thời bày tỏ mong muốn các bên sẽ tiếp tục có những thành công mới, hợp tác mới trong thời gian tới.
Xâm nhập mặn, hạn hán và những biến động khó lường của nguồn nước đang đặt sản xuất nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long ... |
Theo các chuyên gia, ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất cả nước, tuy nhiên quá trình sản xuất chịu nhiều tác động của biến đổi ... |
Trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, nông dân Đà Nẵng đã chủ động chuyển dịch mạnh mẽ tư duy từ 'chống ... |
Từ thế bị động “chạy lũ”, mô hình nuôi tôm càng xanh “vượt lũ” giúp kéo dài thời gian nuôi, tăng lợi nhuận và thích ... |
Dự án GoRice trị giá 15 tỷ đồng được triển khai tại 7 xã ở Cần Thơ, hỗ trợ nông dân sản xuất lúa bền ... |