![]() |
| Tại khu vực Lâm Đồng trước sáp nhập, Atisô là một trong những cây dược liệu chủ lực, với diện tích hơn 283 ha và sản lượng trên 8.100 tấn mỗi năm |
Năm 2025, tổng diện tích gieo trồng dược liệu trên địa bàn đạt khoảng 2.897,2 ha, sản lượng 22.069,7 tấn. Trong đó, cây dược liệu lâu năm khoảng 233 ha, cây dược liệu hàng năm 1.530,8 ha và riêng cây gừng đạt 1.133,4 ha. Các vùng sản xuất đã bước đầu hình thành theo đặc điểm sinh thái của từng khu vực.
Tại khu vực Lâm Đồng trước sáp nhập, Atisô là một trong những cây dược liệu chủ lực, với diện tích hơn 283 ha và sản lượng trên 8.100 tấn mỗi năm. Cùng với đó là các loại sâm có giá trị như Sâm Việt Nam, Sâm Langbiang, Sâm Lai Châu và một số cây dược liệu khác như Đương quy, Bồ công anh. Riêng xã Lạc Dương có khoảng 68,5 ha dược liệu, gồm Atisô, Sâm Lai Châu, Sâm Việt Nam, Đẳng sâm và Đương quy.
Ở khu vực Đắk Nông trước sáp nhập, dược liệu chủ yếu là Gừng, Nghệ, Sả và Đinh lăng, được phát triển theo hướng trồng xen trong vườn cà phê, cao su. Tổng diện tích gieo trồng bình quân hơn 891 ha, sản lượng trên 10.213 tấn mỗi năm. Một số mô hình mới cũng đã xuất hiện, như trồng Đinh lăng dưới mái pin mặt trời tại Nam Đà với diện tích 4,1 ha. Trong khi đó, khu vực Bình Thuận trước sáp nhập có thế mạnh về Bạc hà, Sả, Đinh lăng và các nguồn gen bản địa như Nấm lim xanh, Trà hoa vàng, Sâm bố chính, Xáo tam phân.
Một hướng phát triển đáng chú ý là kết hợp sản xuất dược liệu với kinh tế rừng. Lâm Đồng đang quản lý hơn 1,13 triệu ha đất lâm nghiệp, tạo dư địa lớn để phát triển dược liệu dưới tán rừng. Đây là hướng đi có tiềm năng, vừa tạo thêm giá trị kinh tế từ rừng, vừa góp phần bảo vệ cảnh quan và phát triển các mô hình sản xuất sinh thái.
Tuy nhiên, ngành dược liệu hiện vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Phần lớn diện tích được sản xuất ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ, phân tán, trồng xen hoặc tận dụng đất vườn. Toàn tỉnh mới hình thành 15 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ trên diện tích 316,03 ha, tương đương khoảng 10,9% tổng diện tích dược liệu. Phần lớn các chuỗi liên kết chưa khép kín, nhiều nông hộ vẫn bán nguyên liệu thô hoặc sơ chế thủ công.
Khâu chế biến sâu cũng là điểm nghẽn lớn. Một số doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy đạt tiêu chuẩn, trong đó Công ty CP Dược Lâm Đồng (Ladophar) có hệ thống nhà máy chiết xuất đạt chuẩn GMP-WHO. Tại phía Nam, dự án của Công ty Châu Giang Hưng Yên đã vận hành dây chuyền chiết xuất tinh dầu Bạc hà và đang xây dựng nhà máy Menthol Pilot. Tuy vậy, phần lớn cơ sở còn lại chỉ thực hiện các công đoạn đơn giản như thái lát, phơi, sấy. Thiếu kho bảo quản đạt chuẩn và công nghệ chiết xuất khiến nhiều loại dược liệu phải bán thô, giá trị gia tăng chưa cao.
Việc xây dựng mã số vùng trồng và cơ sở dữ liệu cũng cần được đẩy mạnh. Đến nay, tỉnh đã cấp 6 mã số vùng trồng dược liệu nội địa với tổng diện tích 6,9 ha, nhưng chưa có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu chính ngạch. Toàn tỉnh có 9 ha đạt chứng nhận GACP-WHO và 2 ha canh tác theo tiêu chuẩn hữu cơ. Trong khi đó, dữ liệu về bản đồ vùng trồng, tọa độ địa lý, nhật ký canh tác, nguồn giống và truy xuất sản phẩm vẫn chưa được số hóa đồng bộ.
Thời gian tới, tỉnh định hướng tập trung xây dựng các vùng chuyên canh dược liệu hàng hóa, ưu tiên ứng dụng công nghệ cao và sản xuất hữu cơ. Đồng thời, phát triển dược liệu dưới tán rừng được xác định là một hướng đột phá, nhất là với các loại có giá trị như sâm Ngọc Linh, sâm bố chính, linh chi, Nấm lim xanh, Trà hoa vàng và Ba kích. Việc chuẩn hóa quy trình theo GACP-WHO, xây dựng mã số vùng trồng và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp cũng được đặt ra nhằm tạo đầu ra ổn định hơn.
Với quỹ đất nông nghiệp khoảng 807.500 ha, hơn 1,13 triệu ha đất lâm nghiệp cùng hệ sinh thái đa dạng, Lâm Đồng có nhiều điều kiện để mở rộng ngành dược liệu. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành vùng nguyên liệu hàng hóa, báo cáo cho rằng cần thu hút thêm doanh nghiệp có năng lực công nghệ và tài chính đầu tư vào chế biến sâu, đồng thời xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ bền vững./.