![]() |
| Hội nghị đầu bờ đánh giá kết quả mô hình thâm canh giống sắn kháng bệnh khảm lá HN1 |
Được biết, mô hình được triển khai tại thôn Tân Mỹ, phường Quảng Trị trên diện tích 3 ha với 27 hộ tham gia. Sử dụng giống sắn HN1 kháng bệnh khảm lá, đối chứng với giống KM94 đang được trồng phổ biến tại địa phương.
Tham gia mô hình các hộ dân được Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị hỗ trợ 50% giống, vật tư phân bón và đối ứng 50% để thực hiện mô hình theo đúng quy trình kỹ thuật.
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn từ khâu làm đất, chặt hom giống, mật độ trồng, bón phân, làm cỏ, vun gốc đến theo dõi, phòng trừ sâu bệnh.
Sau một thời gian chăm sóc và theo dõi bước đầu giống sắn HN1 có tỷ lệ mọc mầm đạt 85%, tương đương giống KM94 nhưng thời gian mọc mầm sớm hơn 2 ngày. Cây sinh trưởng khá tốt, thân khỏe, lá xanh, ruộng tương đối đồng đều; chiều cao cây bình quân đạt 228,6 cm, trong khi giống KM94 đạt 195 cm.
![]() |
| Các đại biểu tham quan mô hình tại thôn Tân Mỹ, phường Quảng Trị |
Điểm đáng chú ý, giống sắn HN1 chưa ghi nhận triệu chứng bệnh khảm lá, trong khi giống KM94 đối chứng đã xuất hiện bệnh khảm lá do virus, ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây.
Mặt khác, các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn HN1 đều cao hơn giống sắn KM94 đối chứng. Cụ thể, giống sắn HN1 bình quân đạt 11,6 củ/cây, khối lượng 2,97 kg/cây; trong khi giống sắn KM94 chỉ đạt 5,5 củ/cây, khối lượng 1,17 kg/cây.
Năng suất thu hoạch giống sắn HN1 dự kiến đạt 32,8 tấn/ha, trong khi giống KM94 chỉ đạt khoảng 13,9 tấn/ha. Với giá sắn củ tươi dự kiến 3.000 đồng/kg, mô hình cho tổng thu khoảng 108,4 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí lợi nhuận đạt hơn 64 triệu đồng/ha. Trong khi đó, giống KM94 cho lợi nhuận khoảng 7,95 triệu đồng/ha.
Ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị cho hay, thông qua mô hình bước đầu có thể khẳng định giống sắn HN1 có nhiều ưu điểm về khả năng sinh trưởng, chống chịu bệnh khảm lá và tiềm năng năng suất, phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục đánh giá, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và từng bước đưa giống sắn HN1 vào thay thế các giống dễ nhiễm bệnh khảm lá.