ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 01/11/2026 20:57Chủ nhật 01/11/2026 20:57 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: toasoan@tapchihuucovietnam.vn

Tag

Thuốc bảo vệ thực vật sinh học: Kinh nghiệm Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brazil

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Bùng nổ đăng ký sản phẩm thuốc BVTV sinh học ở các nước. Tại Hàn Quốc, cho phép bán hàng online thuốc BVTV, nghiêm cấm bán hàng online thuốc BVTV hóa học.
Mông dân Thái Lan chủ yếu sử dụng thuốc BVTV sinh học để bổ sung và thay thế một phần thuốc hóa học. Ảnh minh họa.

Mông dân Thái Lan chủ yếu sử dụng thuốc BVTV sinh học để bổ sung và thay thế một phần thuốc hóa học. Ảnh minh họa.

Thái Lan lập kênh ‘đăng ký nhanh’ thuốc sinh học

Thái Lan là một trong những nước sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hóa học khá nhiều trong sản xuất nông nghiệp. Năm 2020, Thái Lan nhập khẩu trên 98 ngàn tấn thuốc BVTV hóa học, tương đương 945 triệu USD, trong khi đó nhập khẩu thuốc BVTV sinh học khoảng 1,6 triệu USD, mặc dù có một số thuốc BVTV sinh học được sản xuất trong nước.

Giảm sử dụng thuốc BVTV hóa học, loại bỏ các hoạt chất thuốc hóa học độc hại, tăng sử dụng thuốc sinh học được Thái Lan quan tâm, đặc biệt trong khoảng thời gian 10-15 năm gần đây.

Hiện tại, nông dân Thái Lan chủ yếu sử dụng thuốc BVTV sinh học để bổ sung và thay thế một phần thuốc hóa học. Nghiên cứu tại Thái Lan đã chỉ ra một số khó khăn chính trong việc thúc đẩy sử dụng thuốc BVTV sinh học bao gồm: Hiệu lực của thuốc sinh học thấp hơn và chậm hơn thuốc hóa học; Thời gian bảo quản thuốc ngắn hơn và chất lượng thuốc dễ bị giảm do điều kiện bảo quản; Chuyên tính hẹp và không được phong phú về chủng loại của thuốc BVTV sinh học để đáp ứng nhu cầu của người sản xuất; Người sản xuất có nhận thức và hiểu biết hạn chế trong sử dụng thuốc BVTV sinh học. Ngoài ra, nguồn nhân lực về nghiên cứu, phát triển công nghệ thuốc BVTV sinh học của Thái Lan vẫn còn hạn chế.

Để thúc đẩy phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học, Thái Lan có quy định về kênh đăng ký nhanh (Fast track registration) đồng thời có sáng kiến ban hành Danh mục thuốc sinh học “độ rủi ro thấp” (minimum risk biopesticides). Năm 2021, số lượng các hoạt chất thuốc sinh học thuộc Danh mục này đã tăng từ 5 lên 17. Đối với các sản phẩm được sản xuất từ các hoạt chất trong Danh mục thuốc sinh học độ rủi ro thấp không cần phải thử nghiệm độc lý học (Toxicology test exempted), vì vậy thời gian chờ đăng ký được rút ngắn xuống còn khoảng 6-12 tháng.

Đối với các loại thuốc sinh học khác, thời gian thực hiện các thủ tục để được đăng ký tại Thái Lan là khoảng 18- 24 tháng, tương tự như ở Mỹ, Úc, nhanh hơn so với ở Nhật Bản và EU.

‘Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh’ ở Nhật Bản

Theo Mordor Intelligence (2023), thị trường thuốc BVTV sinh học của Nhật Bản có tổng giá trị năm 2023 khoảng trên 700 triệu USD, dự báo tăng trưởng 12%/năm giai đoạn 2023 - 2028. Nhật Bản là nước có chính sách khuyến khích sử dụng thuốc BVTV sinh học từ những năm 1950s, với lượng lớn, những năm gần đây đứng khoảng thứ 4 - thứ 5 trên thế giới (Tetsuo Tommy Wada, 2016).

Bộ Nông Lâm nghiệp Nhật Bản đã công bố 'Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh' vào năm 2021. Ảnh minh họa.

Bộ Nông Lâm nghiệp Nhật Bản đã công bố “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh” vào năm 2021. Ảnh minh họa.

Bộ Nông Lâm nghiệp Nhật Bản (MAFF) đã sửa đổi Quy định về Hóa chất Nông nghiệp vào năm 2018 và quy định đánh giá lại tất cả các sản phẩm BVTV đã đăng ký tại Nhật Bản phù hợp với thông tin khoa học mới nhất. Chương trình đánh giá lại bắt đầu vào năm 2021, yêu cầu đánh giá lại tất cả các sản phẩm BVTV đã đăng ký cứ sau 15 năm. Các tổ chức, cá nhân đăng ký thuốc được thông báo về việc đánh giá lại trước 2 năm. Mặc dù một số loại thuốc BVTV sinh học đã được đăng ký, MAFF có kế hoạch thiết lập một hướng dẫn mới về thuốc BVTV sinh học, đồng thời đưa ra quy trình đánh giá lại đối với thuốc sinh học.

Năm 2021, MAFF đã công bố “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh” với mục tiêu cải thiện năng suất và tính bền vững của lương thực, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản thông qua đổi mới. Tương tự như chiến lược “Từ trang trại đến bàn ăn” của châu Âu, “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh” nhằm đạt được một số mục tiêu như không phát thải CO2, giảm 50% rủi ro hóa chất nông nghiệp; giảm 30% sử dụng phân bón hóa học vào năm 2050. Để duy trì các mục tiêu chiến lược, MAFF đang khuyến khích phát triển và giới thiệu thuốc BVTV sinh học cũng như các công nghệ liên quan dựa vào tự nhiên. Với việc thực hiện “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh”, vai trò của thuốc BVTV sinh học trên thị trường nông nghiệp Nhật Bản dự kiến ​​sẽ ngày càng trở nên quan trọng.

Trong công tác quản lý thuốc BVTV sinh học, Nhật Bản rất coi trọng an toàn sinh học, chất lượng, hiệu quả của thuốc và vấn đề sở hữu trí tuệ.

Để thúc đẩy phát triển, ứng dụng các biện pháp sinh học, trong đó có việc sản xuất, sử dụng thuốc sinh học thay thế thuốc hóa học, Hội BVTV sinh học Nhật Bản (Japan Bio-control Association) đã được thành lập vào năm 2016, thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các tập đoàn, doanh nghiệp lớn đang sản xuất, cung ứng thuốc BVTV sinh học.

4 động lực thúc đẩy tăng trưởng thuốc BVTV sinh học ở Hàn Quốc

Kể từ năm 2001, việc sử dụng thuốc BVTV hóa học ở Hàn Quốc đã giảm dần sau khi tăng từ năm 1970 đến năm 1990. Năm 2020, 16.278 tấn thuốc BVTV đã được sử dụng, giảm so với 16.745 tấn của năm trước. Sự sụt giảm này được lý giải là do nông dân nhận thức rõ hơn về sự cần thiết sử dụng thuốc BVTV sinh học thay thế thuốc hóa học.

Năm 2019, giá trị thị trường thuốc BVTV của Hàn Quốc là 1,26 tỷ USD, trong đó thuốc sinh học là 0,3 tỷ USD. Giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học của Hàn Quốc những năm gần đây tăng trưởng khoảng 5-10%/năm.

Các chất kích thích sinh học được Hàn Quốc coi là thuốc BVTV sinh học và được đánh giá là giải pháp mới. Ảnh minh họa.

Các chất kích thích sinh học được Hàn Quốc coi là thuốc BVTV sinh học và được đánh giá là giải pháp mới. Ảnh minh họa.

Động lực chính thúc đẩy tăng trưởng sản xuất và sử dụng thuốc BVTV tại Hàn Quốc bao gồm:

a) Chính sách tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm nông sản thông qua việc áp dụng hệ thống PLS (Positive List System); theo đó Hàn Quốc yêu cầu kiểm tra ATTP đối với 370 hoạt chất thuốc BVTV trên nông sản thực phẩm, bao gồm khoảng gần 240 hoạt chất được đăng ký tại Hàn Quốc và 134 hoạt chất chưa được đăng ký. Đối với các hoạt chất không được đăng ký tại Hàn Quốc, nước này áp dụng mức MRL mặc định là 0,01ppm hoặc thấp hơn. Quy định này đã khuyến khích việc sử dụng thuốc BVTV sinh học an toàn, không để lại dư lượng, đặc biệt ở giai đoạn cuối của cây trồng.

b) Hiện tượng kháng thuốc hóa học của nhiều đối tượng sinh vật hại cây trồng như: Bọ trĩ, nhện, nấm phấn trắng… đã khuyến khích người sản xuất sử dụng thuốc sinh học kết hợp hoặc thay thế thuốc hóa học do thuốc hóa học không có hiệu quả.

c) Sự xuất hiện của những sản phẩm thuốc BVTV sinh học mới, với dạng chế phẩm thuận tiện cho việc sử dụng, hiệu quả cao. Khoảng 10 năm trước, không ai tin rằng thuốc trừ sâu sinh học hoặc chất kích thích sinh học sẽ được bán với giá hơn 1 triệu USD mỗi năm dưới dạng một sản phẩm ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, một số sản phẩm đã chứng minh rằng định kiến này chắc chắn là sai. Một loại thuốc diệt nấm sinh học đã đạt doanh thu gần 10 triệu USD hàng năm và một số chất kích thích sinh học đã ghi nhận doanh thu hàng năm hơn 1 triệu USD. Thực tế này chứng tỏ rằng thuốc trừ sâu sinh học và chất kích thích sinh học đang ngày càng được coi trọng hơn và sử dụng rộng rãi, hiệu quả hơn tại Hàn Quốc.

d) Sự phát triển rộng rãi của hình thức giới thiệu và bán hàng online đã góp phần thúc đẩy sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học. Hàn Quốc quy định được phép bán thuốc BVTV sinh học online, trong khi đó hình thức bán hàng này không được phép đối với thuốc BVTV hóa học.

Một điều đáng chú ý là tại Hàn Quốc những năm gần đây, trên thị trường đã xuất hiện các chất kích thích sinh học (bio-stimulants). Các chất này cũng được Hàn Quốc coi là thuốc BVTV sinh học và đang được nông dân đánh giá cao, là một giải pháp mới trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, đặc biệt là tăng khả năng chịu đựng của cây trồng đối với các điều kiện bất thuận như hạn hán, lũ lụt, thay đổi nhiệt độ cao hay thấp và nứt quả. Sự thành công của chất giữ nước trong đất (Smart Water) và chất chống nứt quả (Fitomaat) chứng tỏ xu hướng mới này đang ngày càng phát huy hiệu quả thực tế trong lĩnh vực sản xuất và ứng dụng thuốc BVTV sinh học ở Hàn Quốc.

Brazil: Bùng nổ đăng ký sản phẩm sinh học

Thị trường thuốc trừ sâu sinh học Brazil ước tính đạt khoảng 340 triệu USD vào năm 2021, nhưng dự đoán rằng thuốc trừ sâu sinh học có tiềm năng tăng 107% đến năm 2030, đạt khoảng 700 triệu USD. Đặc biệt, hơn 2,5 triệu ha trồng đậu tương ở Brazil đã được xử lý bằng thuốc sinh học phòng trừ tuyến trùng trong vụ mùa 2018/2019.

Tại Brazil, thuốc sinh học trừ tuyến trùng được sử dụng trên 90% diện tích trồng đậu tương và khoảng 70% tổng lượng thuốc sinh học trừ tuyến trùng được sử dụng trên đậu tương.

Thị trường thuốc BVTV sinh học của Brazil giai đoạn 2023 - 2028 được dự báo tăng trưởng 8.2%/năm.

Thị trường thuốc BVTV sinh học của Brazil giai đoạn 2023 - 2028 được dự báo tăng trưởng 8.2%/năm.

Năm 2013, chỉ có 107 loại thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký tại Brazil. Năm 2023, số lượng sản phẩm sinh học được đăng ký ở Brazil là 502 chứng tỏ rằng xu hướng phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học rất mạnh mẽ tại quốc gia này. Thị trường thuốc BVTV sinh học của Brazil giai đoạn 2023 - 2028 được dự báo tăng trưởng 8.2%/năm.

Brazil có quy định cho phép sản xuất thuốc BVTV vi sinh ở quy mô trang trại (on-farm biopesticide production) với mục đích “phi thương mại” (non-commercial purpose) Người sản xuất để tự sử dụng không phải đăng ký thuốc, không cần chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, chỉ cần ghi chép nhật ký một số thông tin cơ bản quá trình sản xuất, sử dụng các chủng vi sinh có trong Danh mục đăng ký hoặc các chủng vi sinh bản địa.

nongnghiep.vn

Bài liên quan

Ninh Bình triển khai kế hoạch khuyến nông năm 2027

Ninh Bình triển khai kế hoạch khuyến nông năm 2027

Nhằm thực hiện hiệu quả Chương trình khuyến nông giai đoạn 2026-2030, UBND tỉnh Ninh Bình đã chính thức ban hành Kế hoạch số 370/KH-UBND ngày 28/10/2026 về công tác khuyến nông năm 2027. Kế hoạch này hướng tới mục tiêu đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn, thông minh và bền vững theo chuỗi giá trị gắn liền với chuyển đổi số.
Từ nhà màng đến khát vọng nông nghiệp xanh ở xã Thái Bình

Từ nhà màng đến khát vọng nông nghiệp xanh ở xã Thái Bình

Mạnh dạn đầu tư gần 800 triệu đồng xây dựng nhà màng, ứng dụng hệ thống tưới tự động và đa dạng hóa cây trồng, chị Chu Thị Bình ở thôn Đoàn Kết, xã Thái Bình tỉnh Tuyên Quang đang từng bước đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp. Với sự đồng hành của chính quyền địa phương, tổ chức Hội Nông dân và đơn vị liên kết tiêu thụ, mô hình mở ra hướng phát triển nông nghiệp xanh, nâng cao giá trị nông sản và thu nhập cho người dân.
Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

ĐH Huế hợp tác với doanh nghiệp nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa, thúc đẩy nông nghiệp xanh và mở hướng phát triển dự án carbon bền vững...
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
Gây ô nhiễm môi trường, Chủ tịch TNHH Phước Loan lĩnh án

Gây ô nhiễm môi trường, Chủ tịch TNHH Phước Loan lĩnh án

Ngày 25/9/2026, TAND khu vực 1, Tp Huế mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Hồ Khánh Phước (SN 1963, trú tại Tp. Huế) về tội “Gây ô nhiễm môi trường”. Vụ án cho thấy yêu cầu ngày càng rõ về trách nhiệm của doanh nghiệp trong kiểm soát chất thải, hướng tới sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nâng giá trị dược liệu xứ Thanh từ khâu chế biến

Nâng giá trị dược liệu xứ Thanh từ khâu chế biến

Từ những loại cây thảo mộc quen thuộc như cà gai leo, xạ đen, mâm xôi đến sâm cau, nguồn dược liệu bản địa của Thanh Hóa đang được khai thác theo hướng chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm tiện dụng, phù hợp với nhu cầu thị trường. Tại xã Hà Trung, anh Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Công ty TNHH Bamboo & Wood Creation Việt Nam, đang từng bước hiện thực hóa hướng đi này thông qua việc đầu tư dây chuyền sản xuất trà thảo mộc, chuẩn hóa quy trình chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Công ty Cà phê 15 phát triển 21,24 ha cà phê hữu cơ đạt chuẩn Mỹ và châu Âu tại Đắk Lắk

Công ty Cà phê 15 phát triển 21,24 ha cà phê hữu cơ đạt chuẩn Mỹ và châu Âu tại Đắk Lắk

Cty TNHH MTV Cà phê 15 phát triển vùng canh tác cà phê hữu cơ tại xã Ea Tul, tỉnh Đắk Lắk, với diện tích 21,24 ha, đã sản xuất cà phê hữu cơ đạt tiêu chuẩn USDA-NOP và EU Organic, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị và tính bền vững của hạt cà phê.
Đà Nẵng mở rộng đầu ra cho sản phẩm OCOP

Đà Nẵng mở rộng đầu ra cho sản phẩm OCOP

Việc đưa vào hoạt động Trung tâm OCOP phía Nam Đà Nẵng mở thêm kênh phân phối cho nông sản, đặc sản địa phương, đồng thời tạo cơ hội giao thương giữa các chủ thể sản xuất miền Trung và miền Bắc. Kết hợp điểm bán trực tiếp với thương mại điện tử được kỳ vọng giúp sản phẩm OCOP tiếp cận người tiêu dùng rộng rãi hơn.
Đắk Lắk phát động chiến dịch 30 ngày đêm chuẩn hóa sầu riêng, nâng chất lượng xuất khẩu

Đắk Lắk phát động chiến dịch 30 ngày đêm chuẩn hóa sầu riêng, nâng chất lượng xuất khẩu

Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk phát động chiến dịch 30 ngày đêm hướng dẫn nông dân sản xuất sầu riêng theo tiêu chuẩn VietGAP, kiểm soát chất lượng và chuẩn hóa mã số vùng trồng. Chiến dịch hướng đến khắc phục những bất cập trong sản xuất, nâng cao giá trị và uy tín sầu riêng Đắk Lắk trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thêm 900 ha nhãn lồng Hưng Yên được đưa vào phạm vi bảo hộ chỉ dẫn địa lý

Thêm 900 ha nhãn lồng Hưng Yên được đưa vào phạm vi bảo hộ chỉ dẫn địa lý

Thêm 900 ha nhãn lồng Hưng Yên được đưa vào phạm vi bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo quyết định mới của Cục Sở hữu trí tuệ. Những vùng trồng đủ điều kiện nay có thêm cơ sở để sử dụng, phát triển thương hiệu chung, đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Khi nông dân trở thành “vị khách đặc biệt” tại Nhà máy Phân bón Cà Mau

Khi nông dân trở thành “vị khách đặc biệt” tại Nhà máy Phân bón Cà Mau

Quen với ruộng đồng, nắng gió và những mùa vụ tất bật, gần 1.500 nông dân từ nhiều vùng miền đã có một trải nghiệm đáng nhớ khi trở thành những vị khách đặc biệt tại Nhà máy Phân Bón Cà Mau. Từ những dây chuyền sản xuất hiện đại đến những cuộc gặp gỡ thân tình, hành trình không chỉ mở ra góc nhìn mới về những sản phẩm quen thuộc mà còn mang đến nhiều kỷ niệm khó quên cho bà con.
Phân bón Miền Nam được vinh danh Thương hiệu quốc gia Việt Nam 2026

Phân bón Miền Nam được vinh danh Thương hiệu quốc gia Việt Nam 2026

Tối 16/10, hai sản phẩm chủ lực của Công ty Cổ phần Phân bón Miền Nam đã chính thức được vinh danh tại Lễ công bố Thương hiệu quốc gia Việt Nam 2026, khẳng định uy tín vượt trội cùng hành trình hơn nửa thế kỷ đồng hành và "Nâng tầm nông sản Việt".
Thương hiệu Quốc gia “Phân bón Đầu Trâu” hoà cùng dòng chảy thương hiệu Việt từ Hành trình xanh

Thương hiệu Quốc gia “Phân bón Đầu Trâu” hoà cùng dòng chảy thương hiệu Việt từ Hành trình xanh

Tiếp tục được công nhận đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026, Phân bón Đầu Trâu của Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền khẳng định định hướng xây dựng thương hiệu trên nền tảng chất lượng được minh chứng qua mùa vụ. Doanh nghiệp gắn đổi mới sáng tạo, năng lực tiên phong với chuyển đổi xanh, từng bước xanh hóa từ nhà máy đến ruộng vườn, đồng bộ công nghệ sản xuất, sản phẩm và giải pháp canh tác.
Kiến Quốc phát triển vùng lúa rươi hữu cơ, nâng tầm giá trị nông sản Hải Phòng

Kiến Quốc phát triển vùng lúa rươi hữu cơ, nâng tầm giá trị nông sản Hải Phòng

Từ lợi thế sinh thái đồng ruộng và phương thức canh tác thuận thiên, mô hình lúa rươi hữu cơ tại Kiến Quốc (Hải Phòng) đang từng bước khẳng định giá trị, mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững. Với diện tích được chứng nhận hữu cơ USDA của Mỹ, địa phương tiếp tục đặt mục tiêu mở rộng vùng sản xuất, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường tiêu thụ.
PVFCCo – Phú Mỹ lần thứ 7 liên tiếp đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam

PVFCCo – Phú Mỹ lần thứ 7 liên tiếp đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam

Tại Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026 tổ chức ngày 16/10/2026, 02 sản phẩm Đạm Phú Mỹ và NPK Phú Mỹ của PVFCCo -Phú Mỹ, đơn vị thành viên của Petrovietnam, đã được trang trọng vinh danh trong Top sản phẩm tiêu biểu đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026. Đây là lần thứ 7 liên tiếp PVFCCo – Phú Mỹ giữ được danh hiệu này, kể từ kỳ đầu tiên tham gia Chương trình năm 2014.
Từ đặc sản quê nhà đến thương hiệu OCOP

Từ đặc sản quê nhà đến thương hiệu OCOP

Trong hành trình phát triển kinh tế nông thôn, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) không chỉ tạo thêm những sản phẩm hàng hóa có chất lượng, mà còn góp phần làm nổi bật bản sắc của từng vùng đất. Từ Hạt dẻ Cao Bằng, chè Thái Nguyên, Cam sành Tuyên Quang, vải thiều Bắc Giang, cà phê Tây Nguyên, nước mắm miền biển đến các sản phẩm dược liệu vùng núi, mỗi sản phẩm OCOP đều mang trong mình câu chuyện về đất đai, con người, văn hóa và phương thức sản xuất địa phương.
Phân Bón Cà Mau: 15 năm một hành trình - tự hào 7 lần liên tiếp đạt Thương hiệu Quốc gia

Phân Bón Cà Mau: 15 năm một hành trình - tự hào 7 lần liên tiếp đạt Thương hiệu Quốc gia

Ngày 16/10/2026, tại Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10, Tổng Công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC, HOSE: DCM), đơn vị thành viên của Petrovietnam, có hai sản phẩm chủ lực được vinh danh gồm Đạm Cà Mau và NPK Cà Mau. Đây là dấu mốc quan trọng, tiếp tục khẳng định chất lượng, uy tín và vị thế của Phân Bón Cà Mau trong ngành phân bón Việt Nam.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính