Thứ sáu 03/04/2026 10:17Thứ sáu 03/04/2026 10:17 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: toasoan@tapchihuucovietnam.vn

Tag

Kết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong khuôn khổ chuyến công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) tại tỉnh Sơn La, đoàn công tác đã đi tham quan, khảo sát thực tế tại một số hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp trên địa bàn. Từ mô hình cà phê đặc sản ở bản Sàng Nà Tre, vườn nho ở Chiềng Mung đến vùng chè hữu cơ tại Vân Hồ, hành trình thực địa cho thấy Sơn La đang có nhiều dư địa để phát triển nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, để các mô hình có thể phát triển hơn nữa, địa phương vẫn cần thêm lời giải về chứng nhận, liên kết thị trường, chế biến sâu và tổ chức chuỗi giá trị.
Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Toàn cảnh buổi làm việc giữa đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La.

Thực hiện kế hoạch hoạt động triển khai trong khuôn khổ dự án “Tăng cường năng lực cho Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam” (KVP1052), hợp tác giữa VOAA và Naturland dưới sự tài trợ của SEQUA trong năm 2026, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đã tổ chức chuyến công tác làm việc tại tỉnh Sơn La.

Trong chuyến làm việc tại tỉnh Sơn La, đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam do TSKH Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội dẫn đầu, cùng nhà báo Đỗ Ngọc Thi, Tổng Biên tập Tạp chí Hữu cơ Việt Nam và doanh nghiệp hội viên đã trực tiếp khảo sát một số mô hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La.

Sau khi thăm các mô hình, câu chuyện được đặt ra không chỉ là sản xuất ra sao, năng suất thế nào, mà sâu hơn là làm thế nào để một mô hình có thể đi từ nỗ lực tự thân đến chỗ hình thành chuỗi giá trị bền vững. Thực tế cho thấy, Sơn La không thiếu những mô hình có tiềm năng. Điều địa phương còn thiếu là thêm lực đẩy để những mô hình ấy vượt qua giai đoạn chuyển đổi, khẳng định giá trị trên thị trường và từng bước tiến tới một nền nông nghiệp hữu cơ bài bản hơn.

TSKH Hà Phúc Mịch cùng đoàn công tác trao đổi với anh Cầm Văn Hoàng, Giám đốc HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre, xã Chiềng Mai.
TSKH Hà Phúc Mịch cùng đoàn công tác trao đổi với anh Cầm Văn Hoàng, Giám đốc HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre, xã Chiềng Mai.

Từ khát vọng làm cà phê đặc sản

Điểm dừng chân đầu tiên của đoàn công tác là HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre (xã Chiềng Mai). Tại đây, anh Cầm Văn Hoàng, Giám đốc HTX đã trực tiếp giới thiệu mô hình và trao đổi với đoàn công tác về quá trình hình thành, sản xuất và chế biến cà phê.

Anh Hoàng cho biết, HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre được thành lập từ năm 2023, hiện có 20 thành viên, chủ yếu tập trung làm cà phê đặc sản và hàng thương mại có liên kết đầu ra. Đặc biệt, HTX này không chỉ dừng ở sản xuất nguyên liệu, mà tập trung nhiều vào chế biến và nâng giá trị cho hạt cà phê.

Theo anh Cầm Văn Hoàng, quả cà phê được lựa hái chín đỏ 100%, rửa sạch, loại bỏ quả kém chất lượng, sau đó ủ yếm khí đến ngưỡng phù hợp rồi mới đem phơi trong nhà màng. HTX hiện có 5 nhà màng để phục vụ công đoạn này, với thời gian phơi kéo dài từ 32 đến 48 - 49 ngày tùy điều kiện thời tiết.

Để có đủ nguyên liệu chế biến, HTX phải gom từ nhiều hộ trong bản, mỗi nhà vài cân, vài chục cân. Theo đại diện HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre, loại cà phê này có vị chua thanh, hậu ngọt, thoảng hương hoa quả, tạo nên nét riêng cho cà phê Sơn La.

Không chỉ chú trọng chế biến, HTX Bản Sàng Nà Tre còn đang chuyển dần sang hướng canh tác bền vững hơn. Anh Cầm Văn Hoàng chia sẻ, người dân ở đây canh tác theo hướng giảm dần phân hóa học, tận dụng vỏ cà phê để ủ với men vi sinh làm phân bón, không dùng thuốc diệt cỏ mà trồng cỏ lạc để giữ ẩm, nuôi hệ vi sinh vật đất.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Anh Cầm Văn Hoàng (Bìa trái), Giám đốc HTX trao đổi với đoàn công tác.

Chia sẻ với đoàn công tác, anh Cầm Văn Hoàng cho biết khó khăn lớn nhất của HTX hiện nay nằm ở nội lực còn mỏng, thiếu máy móc thiết bị và hạn chế về nguồn vốn đầu tư. Theo anh Hoàng, trước đây không ít HTX được thành lập theo phong trào, nhưng do năng lực nội tại yếu, lại trông chờ vào chính sách hỗ trợ nên dần rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng rồi giải thể.

Với HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre, các thành viên phải tự bỏ vốn đầu tư nhà màng; riêng anh Hoàng cũng tự tìm tòi, chế tạo một số thiết bị như máy sàng, máy rang cà phê để chủ động hơn trong sản xuất. Dù vậy, HTX vẫn đang thiếu những thiết bị quan trọng như máy xát vỏ, máy sàng trọng lượng và máy bắn màu, khiến nhiều công đoạn vẫn phải thuê gia công bên ngoài. Anh Hoàng tâm sự, nếu muốn đi xa hơn theo hướng chế biến sâu thay vì chỉ dừng ở sơ chế, HTX sẽ phải đối mặt với bài toán đầu tư máy móc lớn hơn nhiều, đồng thời phải tính đến hệ thống xử lý nước thải.

Không chỉ thiếu thiết bị, HTX còn gặp nhiều trở ngại trong tiếp cận vốn. Giám đốc HTX cho biết từng tìm kiếm cơ hội từ một dự án tài trợ cà phê của tổ chức phi chính phủ tại Thái Lan, song khi đưa về địa phương thì không được xét duyệt, khiến cơ hội hỗ trợ sau đó chuyển sang khu vực khác. Việc vay vốn ngân hàng để đầu tư máy móc cũng không dễ, do còn vướng thủ tục đất đai, nhất là vấn đề tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi nếu vay ở mức thấp thì không đủ để HTX đầu tư đồng bộ.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
TSKH. Hà Phúc Mịch cùng nhà báo Đỗ Ngọc Thi tặng cuốn tạp chí Hữu cơ Việt Nam cho HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre.

Về định hướng sản xuất, anh Hoàng thẳng thắn nhìn nhận HTX hiện vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, chưa đạt chuẩn hữu cơ. Theo anh, bà con chưa thể cắt bỏ ngay phân bón hóa học, mà mới đi theo lộ trình giảm dần đầu vào vô cơ để từng bước thích ứng với phương thức canh tác bền vững hơn. Đây cũng là lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế của HTX ở thời điểm hiện nay.

Tại buổi khảo sát HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre, TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA đánh giá cao hướng canh tác mà hợp tác xã đang theo đuổi. Ông cho rằng việc tận dụng vỏ cà phê ủ với men vi sinh làm phân bón, cũng như duy trì thảm cỏ lạc trong vườn để giữ ẩm, cải tạo đất, là những cách làm phù hợp với định hướng nông nghiệp hữu cơ. TSKH. Hà Phúc Mịch nhận xét, tư duy để cây trồng cùng tồn tại, hỗ trợ lẫn nhau chính là hướng đi đúng trong quá trình chuyển đổi sang canh tác bền vững.

Trước những nỗ lực của mô hình này, Chủ tịch VOAA động viên anh Cầm Văn Hoàng, Giám đốc HTX Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre tiếp tục theo đuổi hướng đi hiện nay và cân nhắc tham gia Hiệp hội trong thời gian tới để có thêm điều kiện cập nhật thông tin, kết nối và phát triển sâu hơn.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam khảo sát thực tế mô hình trồng nho hạ đen tại HTX Đoàn Kết.

Những mô hình chuyển đổi còn nhiều trăn trở

Rời vùng cà phê, đoàn công tác tiếp tục đến thăm mô hình của anh Nguyễn Đình Tuấn, Giám đốc HTX Đoàn Kết tại xã Chiềng Mung. Tại đây, anh Tuấn trực tiếp dẫn đoàn đi thực tế trong vườn nho của gia đình, chia sẻ về quá trình theo đuổi mô hình đang chuyển đổi hữu cơ và những trăn trở suốt nhiều năm qua.

Điều anh Tuấn nhấn mạnh trước hết không phải là lợi nhuận, mà là sức khỏe của người làm vườn, của gia đình và của người tiêu dùng. Theo giám đốc HTX Đoàn Kết, trong điều kiện nhà lưới mùa nắng có thể lên tới 45-47 độ C, nếu phun thuốc hóa học, công nhân gần như không thể chịu nổi. Vì vậy, anh Tuấn chọn cách làm nông nghiệp an toàn hơn, dù biết con đường ấy sẽ khó hơn nhiều.

**TSKH Hà Phúc Mịch cùng anh Nguyễn Đình Tuấn kiểm chứng dịch tưới hữu cơ được ủ từ trái cây, trong đó có dâu tây, sử dụng cho vườn nho tại HTX Đoàn Kết.
Anh Nguyễn Đình Tuấn giới thiệu với TSKH. Hà Phúc Mịch và nhà báo Đỗ Ngọc Thi về dịch tưới được ủ từ trái cây, trong đó có dâu tây, sử dụng cho vườn nho tại HTX Đoàn Kết.

Tại vườn nho, anh Tuấn cho biết vườn của mình hoàn toàn không sử dụng phân NPK hay thuốc bảo vệ thực vật, mà tự ủ dịch tưới từ trái cây chín như dâu tây, chuối,... kết hợp rỉ mật và men EM để chăm cây. Theo anh Tuấn, nho làm theo hướng chuyển đổi hữu cơ có độ giòn, vị ngọt sâu, thơm hơn và thời gian bảo quản cũng lâu hơn so với nho trồng theo cách thông thường.

Vườn nho của gia đình anh Tuấn hiện rộng khoảng 3.000 m2, chủ yếu trồng giống nho hạ đen và kết hợp với giống nho sữa Hàn Quốc, dự kiến năm 2026 cho sản lượng 6 - 7 tấn mỗi vụ. Giá bán cho siêu thị khoảng 110.000 đồng/kg, bán lẻ online khoảng 120.000 đồng/kg. Dù vậy, với anh Tuấn, điều quan trọng hơn cả vẫn là làm ra sản phẩm sạch đúng nghĩa và được thị trường nhận diện đúng giá trị. Đây cũng là nút thắt chung của không ít mô hình đang chuyển đổi hữu cơ hiện nay.

Tuy vậy, anh Nguyễn Đình Tuấn cũng chia sẻ với đoàn khảo sát, bản thân đã nhiều lần kiến nghị, mong được cơ quan chức năng nghiên cứu, kiểm nghiệm và hỗ trợ cấp chứng nhận hữu cơ cho mô hình, song đến nay vẫn chưa có kết quả. Việc canh tác hiện chủ yếu dựa vào đam mê, tự mày mò và tự chịu rủi ro. Trong khi đó, sản lượng và mẫu mã của nho chuyển đổi hữu cơ thường không thể bằng cách làm vô cơ, nhưng giá bán ngoài thị trường lại chưa tạo ra chênh lệch đủ lớn để bù cho công sức và chi phí.

Anh Nguyễn Đình Tuấn, Giám đốc HTX Đoàn Kết, giới thiệu với đoàn công tác về quá trình chăm sóc vườn nho đang chuyển đổi hữu cơ.
Anh Nguyễn Đình Tuấn, Giám đốc HTX Đoàn Kết giới thiệu với TSKH. Hà Phúc Mịch về quá trình chăm sóc vườn nho.

Sau khi khảo sát thực tế tại vườn nho, TSKH. Hà Phúc Mịch ghi nhận tâm huyết và sự kiên định của anh Nguyễn Đình Tuấn trong quá trình theo đuổi mô hình nông nghiệp hữu cơ. Theo ông, giá trị của cách làm này không chỉ nằm ở thu nhập, mà trước hết là bảo vệ sức khỏe cho chính người sản xuất, người lao động trực tiếp tại vườn, sau đó mới đến lợi ích dành cho cộng đồng và môi trường sinh thái.

TSKH. Hà Phúc Mịch cũng đánh giá cao những điểm tích cực của mô hình canh tác đang chuyển đổi hữu cơ. Từ không gian sản xuất sạch, không có mùi thuốc hay hóa chất; lá nho dày, khỏe, không bám cặn thuốc bảo vệ thực vật. Từ thực tế đó, Chủ tịch VOAA cho rằng đây là hướng đi đúng và cần được tiếp tục hoàn thiện. Ông cũng gợi ý chủ vườn nghiên cứu tự động hóa hệ thống tưới ngầm nhằm tiết kiệm thời gian, giảm chi phí nhân công và nâng cao hiệu quả chăm sóc.

Chia sẻ với những khó khăn mà anh Tuấn đang gặp phải, TSKH. Hà Phúc Mịch cho biết mục tiêu của đoàn công tác là để nắm bắt sát hơn thực tế sản xuất. Những ghi nhận từ mô hình sẽ là cơ sở để Hiệp hội có thêm thông tin trao đổi, kiến nghị với lãnh đạo tỉnh Sơn La về cơ chế hỗ trợ đối với các mô hình đang theo đuổi nông nghiệp hữu cơ.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Đoàn công tác làm việc với ông Vũ Việt Thắng, Tổng Giám đốc Công ty CP Phúc Sinh Sơn La về định hướng chuyển đổi sản xuất cà phê hữu cơ.

Bên cạnh mô hình của HTX Đoàn Kết, một lát cắt khác của hành trình khảo sát là cuộc trao đổi giữa đoàn công tác với ông Vũ Việt Thắng, Tổng Giám đốc Công ty CP Phúc Sinh Sơn La. Nếu câu chuyện của HTX Bản Sàng Nà Tre và HTX Đoàn Kết phản ánh nỗ lực chuyển đổi từ phía nông hộ và hợp tác xã, thì Phúc Sinh cho thấy ngay cả doanh nghiệp chế biến quy mô lớn cũng phải đi qua một hành trình nhiều thử thách khi bước vào hữu cơ.

Trao đổi với đoàn công tác, ông Vũ Việt Thắng cho biết Tập đoàn Phúc Sinh được thành lập từ năm 2001, ban đầu hoạt động trong lĩnh vực thương mại xuất khẩu nông sản, chủ yếu là hồ tiêu và cà phê. Để chủ động kiểm soát chất lượng, doanh nghiệp đã từng bước đầu tư hệ thống nhà máy chế biến.

Riêng tại Sơn La, nhà máy Phúc Sinh đi vào hoạt động từ năm 2018, chuyên chế biến cà phê Arabica, với công suất tiêu thụ khoảng 20.000 tấn quả tươi mỗi năm, tương đương khoảng 10% sản lượng cà phê toàn tỉnh. Do đặc thù cà phê Arabica phải được chế biến ướt trong vòng 24 giờ sau thu hoạch để tránh lên men, nhà máy hiện duy trì sản lượng khoảng 4.000 - 5.000 tấn cà phê nhân xanh mỗi năm, phục vụ xuất khẩu sang châu Âu, châu Mỹ và Trung Đông.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Ông Vũ Việt Thắng, Tổng Giám đốc Công ty CP Phúc Sinh Sơn La cho biết công ty đã quyết định quy hoạch 8,29 ha trồng cây cà phê để chuyển đổi sang canh tác hữu cơ từ giai đoạn 2019 - 2020.

Tại buổi làm việc, ông Thắng cũng nhấn mạnh bài toán môi trường trong chế biến cà phê. Theo đó, nhà máy đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải sinh học tương đối hoàn chỉnh. Bình quân mỗi tấn cà phê quả tươi phát sinh khoảng một mét khối nước thải. Trong khi đó, phần vỏ cà phê tươi chiếm khoảng 30% sản lượng, tương đương khoảng 6.000 tấn mỗi năm, nếu không xử lý tốt sẽ rất dễ gây mùi và ô nhiễm. Để giảm áp lực môi trường, công ty đã tổ chức ủ men sinh học phần phụ phẩm này, sau đó chuyển giao để làm phân bón hữu cơ.

Về quá trình chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ, ông Vũ Việt Thắng cho biết doanh nghiệp bắt đầu đặt vấn đề khi nhận thấy vùng cà phê Sơn La phát triển nhanh nhưng cũng bộc lộ dấu hiệu suy giảm sức khỏe đất do lạm dụng phân vô cơ và thuốc diệt cỏ. Từ thực tế đó, cùng với những quan sát trong các chuyến đi chuyên môn, công ty quyết định quy hoạch 8,29 ha trồng cây cà phê để chuyển đổi sang canh tác hữu cơ từ giai đoạn 2019 - 2020. Khu vực này được cách ly bằng hàng rào sinh học, sử dụng cây găng.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Ông Vũ Việt Thắng giới thiệu với đoàn công tác về mô hình trồng cây cà phê chuyển đổi sang hữu cơ.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi không hề đơn giản. Tổng Giám đốc Công ty CP Phúc Sinh Sơn La cho biết, trong những năm đầu loại bỏ hoàn toàn phân hóa học, năng suất giảm mạnh. Không chỉ sản lượng bị ảnh hưởng, công tác tổ chức cho công nhân chăm sóc vườn theo quy chuẩn mới cũng gặp nhiều lúng túng. Hiện doanh nghiệp đang tiếp tục phối hợp với các chuyên gia để hoàn thiện quy trình, trước mắt hướng tới xin chứng nhận theo tiêu chuẩn Việt Nam, sau đó mới tính đến các tiêu chuẩn cao hơn của thị trường quốc tế.

Từ góc độ chuyên môn, TSKH. Hà Phúc Mịch đánh giá cao cách làm của Phúc Sinh, nhất là việc sử dụng hàng rào sinh học để cách ly vùng chuyển đổi. Theo ông, việc năng suất giảm 30 - 50% trong 3 năm đầu là điều thường gặp ở các mô hình chuyển đổi hữu cơ, và từ năm thứ 5 trở đi, đất đai cũng như cây trồng sẽ dần phục hồi theo hướng năng suất, chất lượng ổn định, bền vững hơn.

Chủ tịch Hà Phúc Mịch cũng lưu ý, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến các quy định chống phá rừng của thị trường châu Âu, bởi hiện nay các đối tác nhập khẩu sử dụng bản đồ vệ tinh để kiểm tra rất chặt chẽ, nhất là với những vùng sản xuất có nguy cơ lấn lên đất rừng hoặc khu vực đỉnh núi.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
TSKH. Hà Phúc Mịch tặng bộ Tiêu chuẩn cơ sở về nông nghiệp hữu cơ VOAA cho Tổng Giám đốc Công ty CP Phúc Sinh Sơn La.

Liên quan đến câu chuyện chứng nhận, TSKH. Hà Phúc Mịch cho rằng, doanh nghiệp có thể nghiên cứu áp dụng Tiêu chuẩn Hữu cơ - TCCS 01:2024/VOAA do Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam ban hành, đồng thời cam kết Hiệp hội sẽ hỗ trợ về tư vấn kỹ thuật, đào tạo nhân lực làm hữu cơ và kết nối xúc tiến thương mại. Chủ tịch Hiệp hội cũng ngỏ lời mời Phúc Sinh tham gia đoàn công tác dự hội chợ hữu cơ BioFach tại Đức vào tháng 2 năm tới để tiếp cận trực tiếp khách hàng quốc tế.

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Phan Kiều Anh, Phó Giám đốc điều hành Công ty Bảo Minh, bày tỏ sự quan tâm tới định hướng chuyển đổi của Phúc Sinh Sơn La. Theo bà, với hệ thống phân phối tại các siêu thị và nền tảng bán hàng trực tuyến trong nước, Bảo Minh mong muốn có cơ hội hợp tác, trở thành đầu ra cho các sản phẩm cà phê của Phúc Sinh trong thời gian tới.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Ông Nguyễn Xuân Trường, Giám đốc Công ty CP chè Chiềng Đi trao đổi với đoàn công tác về mô hình chè hữu cơ tại Vân Hồ.

Điểm sáng từ mô hình nông nghiệp hữu cơ

Trong hành trình khảo sát, Công ty CP chè Chiềng Đi ở xã Vân Hồ là mô hình đoàn công tác trực tiếp ghi nhận đã có chứng nhận hữu cơ. Chia sẻ với đoàn công tác, ông Nguyễn Xuân Trường, Giám đốc Công ty Cổ phần chè Chiềng Đi cho biết quyết định chuyển sang sản xuất chè hữu cơ được hình thành cách đây khoảng 4 - 5 năm, khi doanh nghiệp hợp tác với đối tác Nhật Bản.

Theo khuyến nghị của các chuyên gia Nhật Bản, công ty không tiếp tục phát triển vùng chè hữu cơ ở khu vực thấp như Tuyên Quang, Phú Thọ, mà chuyển lên vùng cao Vân Hồ, nơi có độ cao trên 1.000 m, khí hậu mát mẻ, trong lành và phù hợp hơn cho cây chè. Cũng từ yêu cầu của đối tác Nhật Bản, doanh nghiệp lựa chọn làm 100% hữu cơ để tránh nguy cơ tạp nhiễm nguyên liệu nếu song song tồn tại hai phương thức canh tác khác nhau trong cùng vùng sản xuất.

Từ định hướng đó, Công ty CP chè Chiềng Đi tập trung phát triển các dòng chè phục vụ thị trường Nhật Bản và quốc tế, trong đó nổi bật là Matcha và Sencha. Thay vì sử dụng giống chè bản địa có hàm lượng tanin cao, vị chát đậm và dễ gây mất ngủ, doanh nghiệp lựa chọn các giống chè chuyên biệt của Nhật Bản và giống Ô Long Đài Loan nhằm phù hợp hơn với thị hiếu khách hàng ở Nhật Bản và châu Âu.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
TSKH. Hà Phúc Mịch tham quan nhà máy chè của Công ty CP chè Chiềng Đi.

Về kỹ thuật canh tác, ông Trường cho biết trước thu hoạch từ 15 đến 20 ngày, toàn bộ diện tích chè được che lưới đen để giảm độ chát, tăng hàm lượng amino acid và chất chống oxy hóa, đồng thời giúp búp chè có màu xanh sậm hơn. Doanh nghiệp sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh dạng nước theo yêu cầu của đối tác thu mua, chủ yếu phun qua lá nên không cần làm sạch cỏ ở gốc; thảm cỏ được giữ lại để che phủ đất và hỗ trợ hệ sinh thái vườn chè. Vùng chè hữu cơ hiện có diện tích khoảng 30 ha, được bố trí cách biệt hẳn với khu canh tác thông thường để hạn chế tối đa tác động từ bên ngoài.

Theo ông Trường, giai đoạn đầu chuyển đổi sang hữu cơ, sản lượng chè giảm khoảng 15 - 20%. Tuy nhiên, từ năm thứ 5 trở đi, năng suất dần ổn định, thậm chí có thể cao hơn mô hình sản xuất thông thường. Đáng chú ý, cây chè hữu cơ có khả năng thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Trong điều kiện thời tiết bất lợi, nếu nhiều nơi có thể giảm tới 30% sản lượng, thì vùng chè của công ty chỉ giảm khoảng 5 - 10%.

Kết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn LaKết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn LaKết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn LaKết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La

Về thị trường tiêu thụ, ông Nguyễn Xuân Trường cho biết công ty hiện tập trung chủ yếu vào bán buôn và xuất khẩu, với các thị trường chính là Nhật Bản, châu Âu, Hàn Quốc và Úc. Tại thị trường nội địa, doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu khối lượng lớn cho các chuỗi đồ uống, đồng thời nhận gia công nhãn hàng riêng cho một số đối tác để xuất khẩu sang châu Âu. Trao đổi tại buổi làm việc, bà Phan Kiều Anh, đại diện Công ty Bảo Minh, cũng bày tỏ mong muốn kết nối tiêu thụ các sản phẩm bán lẻ của doanh nghiệp trên hệ thống siêu thị và nền tảng thương mại điện tử trong nước.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
Nhà báo Đỗ Ngọc Thi thay mặt Chủ tịch VOAA trao tặng cho ông Nguyễn Xuân Trường bộ tiêu chuẩn hữu cơ của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.

Đánh giá về mô hình, TSKH. Hà Phúc Mịch ghi nhận sự bài bản trong tư duy sản xuất cũng như quy trình tổ chức vùng nguyên liệu của Công ty CP chè Chiềng Đi. Nhà báo Đỗ Ngọc Thi thay mặt Chủ tịch VOAA trao tặng cho ông Nguyễn Xuân Trường bộ tiêu chuẩn hữu cơ của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đã được Tổ chức Nông nghiệp Hữu cơ Quốc tế (IFOAM) công nhận.

Cũng trong buổi trao đổi, ông Trường cho biết ngoài vùng chè hữu cơ, công ty còn phát triển mô hình dâu tây sạch trồng trong nhà màng vào thời gian cây chè nghỉ từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mô hình này vừa giúp tận dụng lao động, vừa tạo thêm việc làm và nguồn thu cho doanh nghiệp. Kết thúc buổi làm việc, đoàn công tác đã trực tiếp tham quan nhà máy chế biến chè và khu trồng dâu tây của công ty.

Giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La
TSKH. Hà Phúc Mịch cùng nhà báo Đỗ Ngọc Thi mục sở thị vườn dâu tây của ông Nguyễn Xuân Trường.

Thông qua các mô hình được khảo sát, có thể thấy tỉnh Sơn La có nhiều dư địa để phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp hữu cơ. Từ một HTX trẻ tự lực đầu tư làm cà phê đặc sản, một người nông dân bền bỉ với vườn nho chuyển đổi hữu cơ, đến một doanh nghiệp lớn đang kiên trì tái thiết vùng nguyên liệu và một mô hình chè hữu cơ đã định hình được thị trường, mỗi điểm đến đều cho thấy một nỗ lực riêng, một hướng đi riêng.

Nhưng cũng từ thực tế ấy, những điểm nghẽn hiện ra rất rõ: nhiều mô hình chuyển đổi vẫn thiếu chứng nhận, thiếu hướng dẫn kỹ thuật bài bản, thiếu máy móc chế biến, thiếu đầu ra ổn định và thiếu sự kết nối chuỗi đủ chặt. Trong khi đó, nông nghiệp hữu cơ hay chuyển đổi hữu cơ không thể thành công nếu chỉ đặt gánh nặng lên vai người sản xuất.

Chuyến khảo sát lần này vì thế không chỉ mang ý nghĩa tham quan mô hình. Điều quan trọng hơn là từ những câu chuyện thực tế, bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La cho thấy, muốn đi đường dài, địa phương cần một hệ sinh thái đồng bộ hơn, trong đó có vai trò của cơ quan quản lý, hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp tiêu thụ, cơ quan truyền thông và chính những người nông dân đang bền bỉ thay đổi cách làm trên mảnh đất của mình...

Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La

Tại buổi làm việc giữa đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Sở Nông nghiệp và Môi trường ...

Trao chứng nhận hữu cơ PGS cho các hợp tác xã ở tỉnh Phú Thọ và Sơn La Trao chứng nhận hữu cơ PGS cho các hợp tác xã ở tỉnh Phú Thọ và Sơn La

Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp đã triển khai hoạt ...

Trồng Xoài hữu cơ đang phát triển ở Sơn La Trồng Xoài hữu cơ đang phát triển ở Sơn La

Sơn La, một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cây xoài, trở thành một trong ...

Bài liên quan

Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La

Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La

Tại buổi làm việc giữa đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, hai bên đã nhìn lại thực trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại địa phương, đồng thời tập trung phân tích những điểm nghẽn lớn về chứng nhận, thị trường, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ. Từ đối thoại thẳng thắn giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp và cơ quan báo chí chuyên ngành, nhiều hướng đi cụ thể đã được đặt ra nhằm mở rộng dư địa phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ Sơn La.
Hải Phòng: Chung tay vì “một sức khỏe” để đảm bảo an toàn thực phẩm từ gốc

Hải Phòng: Chung tay vì “một sức khỏe” để đảm bảo an toàn thực phẩm từ gốc

Việc phối hợp đào tạo thực địa giữa Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y với Trường Đại học Y Dược Hải Phòng không chỉ dừng lại ở phòng chống dịch bệnh, mà còn là mắt xích then chốt trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm nông nghiệp cung ứng cho người dân thành phố.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nông nghiệp hữu cơ mở hướng phát triển bền vững và nâng tầm giá trị nông sản

Nông nghiệp hữu cơ mở hướng phát triển bền vững và nâng tầm giá trị nông sản

Trong xu thế phát triển nông nghiệp xanh, an toàn và thân thiện với môi trường, tỉnh Quảng Ninh đang khẳng định vị thế tiên phong khi thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi phương thức sản xuất theo mô hình hữu cơ. Chiến lược này không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ hệ sinh thái mà còn trực tiếp tạo ra những giá trị kinh tế vượt trội, xây dựng sinh kế vững chắc và an toàn cho người dân vùng mỏ.
Tầm quan trọng của Organic Matter đối với cây trồng

Tầm quan trọng của Organic Matter đối với cây trồng

Trong nông nghiệp, khi nói đến độ màu mỡ của đất, người ta thường nhắc đến một yếu tố cốt lõi nhưng đôi khi bị xem nhẹ: chất hữu cơ. Đây chính là “linh hồn” của đất, quyết định đến khả năng nuôi dưỡng cây trồng một cách bền vững. Việc hiểu rõ vai trò của chất hữu cơ - hay Organic Matter (OM) - là nền tảng để xây dựng một nền nông nghiệp hiệu quả và thân thiện với môi trường.
Nuôi trồng thủy canh kết hợp trồng cây – nuôi cá (Aquaponics): Mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn

Nuôi trồng thủy canh kết hợp trồng cây – nuôi cá (Aquaponics): Mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn

Trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng và nhu cầu về thực phẩm an toàn không ngừng tăng cao, các mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu. Một trong những mô hình tiêu biểu là nuôi trồng thủy canh kết hợp trồng cây – nuôi cá (Aquaponics). Đây là mô hình tích hợp giữa nuôi trồng thủy sản và trồng cây không dùng đất, tạo thành một hệ sinh thái khép kín, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa thân thiện với môi trường.
VOAA mở đăng ký lớp tập huấn Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA

VOAA mở đăng ký lớp tập huấn Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vừa phát đi thông báo mở đăng ký lớp tập huấn “Tiêu chuẩn cơ sở của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam - TCCS 01:2024/VOAA”, tổ chức trong 2 ngày 27 - 28/3/2026 tại Hà Nội. Chương trình nhằm phổ biến, hướng dẫn áp dụng bộ tiêu chuẩn tới hội viên và các tổ chức, cá nhân quan tâm đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ, góp phần thúc đẩy phát triển lĩnh vực này theo hướng minh bạch, bài bản và bền vững.
Gạo ruộng rươi Kiến Quốc - Tinh hoa từ hệ sinh thái tự nhiên

Gạo ruộng rươi Kiến Quốc - Tinh hoa từ hệ sinh thái tự nhiên

Nhắc đến vùng ven sông của huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, nhiều người không chỉ nhớ đến đặc sản rươi nổi tiếng mà còn biết tới một sản phẩm nông nghiệp độc đáo - gạo ruộng rươi Kiến Quốc. Đây là loại gạo được trồng trên những thửa ruộng sinh thái đặc biệt, nơi con rươi sinh sống tự nhiên. Sự kết hợp giữa thiên nhiên, phương thức canh tác truyền thống và ý thức bảo vệ môi trường đã tạo nên một sản phẩm gạo sạch, giàu giá trị dinh dưỡng và mang đậm hương vị đồng quê Bắc Bộ.
Từ sản xuất đến tiêu dùng qua chuỗi cung ứng thực phẩm xanh

Từ sản xuất đến tiêu dùng qua chuỗi cung ứng thực phẩm xanh

Biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, ô nhiễm môi trường và những lo ngại ngày càng tăng về an toàn thực phẩm, việc xây dựng và phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm xanh đang trở thành xu hướng tất yếu trên toàn cầu. Không chỉ góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, chuỗi cung ứng thực phẩm xanh còn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp phát triển bền vững.
UBND Tp. Huế cùng Tập đoàn Quế Lâm hợp tác phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

UBND Tp. Huế cùng Tập đoàn Quế Lâm hợp tác phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Chiều 05/3, UBND thành phố Huế và Công ty Cổ phần Tập đoàn Quế Lâm đã tổ chức lễ ký kết biên bản hợp tác phát triển kinh tế nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn...
Đẩy mạnh phát triển vùng sản xuất rau an toàn gắn với truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

Đẩy mạnh phát triển vùng sản xuất rau an toàn gắn với truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định về việc thực hiện Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030. Đây là bước cụ thể hóa chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhằm nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng cho ngành hàng rau, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Đồng hành cùng người tiêu dùng trong nhận diện thực phẩm hữu cơ

Đồng hành cùng người tiêu dùng trong nhận diện thực phẩm hữu cơ

Trước nhu cầu ngày càng tăng về thực phẩm an toàn và minh bạch, việc trang bị kiến thức về phương pháp sản xuất đạt chuẩn và cách nhận diện thực phẩm hữu cơ là yếu tố quan trọng giúp người tiêu dùng lựa chọn đúng, góp phần xây dựng niềm tin thị trường và thúc đẩy hệ sinh thái hữu cơ phát triển bền vững.
Phát hiện gene lúa mì "ngủ quên" hàng nghìn năm nay

Phát hiện gene lúa mì "ngủ quên" hàng nghìn năm nay

Một nghiên cứu khoa học mới công bố cho thấy việc kích hoạt một gene đặc biệt, vốn tồn tại trong bộ gene lúa mì từ hàng nghìn năm nay nhưng gần như không hoạt động.
Chế biến sâu hướng đi bền vững nhằm nâng cao giá trị nông sản

Chế biến sâu hướng đi bền vững nhằm nâng cao giá trị nông sản

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nông nghiệp không còn chỉ dừng lại ở việc sản xuất nguyên liệu thô mà đang chuyển mạnh sang phát triển theo chuỗi giá trị. Đây là bước ngoặt chuyển từ “thô” sang “tinh”.
Lâm Đồng: Trao 12 Giấy chứng nhận đạt chuẩn hữu cơ cho các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp

Lâm Đồng: Trao 12 Giấy chứng nhận đạt chuẩn hữu cơ cho các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng vừa tổ chức Lễ bàn giao 12 Giấy chứng nhận đạt chuẩn hữu cơ theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) cho các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính